Gabriel Batistuta ‘Trong nỗi nhớ khôn nguôi về vua sư tử’

  • 09:53 10/07/2020

 

Ở Argentina, Maradona là một vị thánh, bởi những cảm xúc ông mang lại cho người dân Argentina trên đất Mexico năm 1986 là quá kỳ diệu. Bất kể ông có dính vào bao nhiêu vụ scandal, có hút thêm bao nhiêu thuốc phiện đi nữa, ông vẫn là thánh. Còn Messi, từ khi ở cái độ tuổi ngoài đôi mươi, anh đã có trong tay những thứ mà tất cả phải ghen tị. Đôi ba Quả bóng vàng, hàng tá những danh hiệu cấp câu lạc bộ, solo ghi bàn như cơm bữa, sự thừa nhận của cả giới chuyên môn lẫn người hâm mộ. Nhưng nếu để chọn ra một người Argentina tôi yêu mến nhất, đó sẽ là “Vua sư tử” Batistuta, tiền đạo xuất sắc bậc nhất lịch sử, nét chấm phá đầy màu sắc giữa 2 giai đoạn của Maradona và Messi.

“Ở Argentina, mọi đứa trẻ yêu thích bóng đá đều muốn chơi theo cách của Maradona, còn tôi thích Mario Kempes” - Batistuta đã phát biểu một câu ngắn gọn như vậy để lý giải cho phong cách chơi bóng của mình. Maradona đủ nhanh nhẹn để nhận bóng, vượt qua hậu vệ đối phương, còn Batistuta thì đủ dũng mãnh để càn lướt. Maradona tinh quái và kỹ thuật để solo qua 3-4 cầu thủ đối phương, còn Batistuta chọn cách đơn giản hơn, một cú sút uy lực để biến 3-4 hậu vệ trước mặt anh trở thành khán giả bất đắc dĩ. Maradona sử dụng thuốc phiện, dính vào nhiều tin đồn tình ái, còn Batistuta sống chung thuỷ với vợ, người phụ nữ anh quen từ năm 16 tuổi và có 4 người con. Anh là phức hợp của tất cả những gì đối lập nhất với Maradona.

Trong cái thời kỳ bóng đá chưa bị “công nghiệp hoá”, xứ sở Tango luôn đều đặn cho ra là những nghệ sĩ chơi bóng. Ở những khu ổ chuột, rất nhiều đứa trẻ vẫn lấy Maradona làm hình mẫu chơi bóng, chúng bắt chước cái dáng chạy, cách qua người và mọi thứ thuộc về ông. Dường như sức ảnh hưởng của Maradona lên bóng đá Argentina lớn tới mức không chỉ ở hình mẫu, mà còn là một lời nguyền. Tất cả những đứa trẻ lớn lên theo phong cách “lệch chuẩn” Maradona đều có một sự nghiệp không yên ả. Batistuta là một trong những ví dụ điển hình nhất.

Thành Florence là cái nôi của thời kỳ Phục hưng nổi tiếng trong lịch sử nhân loại. Ngày nay, du khách tới Florence vẫn có thể dễ dàng chiêm ngưỡng những bức tượng tuyệt đẹp dường như trường tồn với thời gian. Nổi tiếng nhất trong số đó là bức tượng chàng David của nhà điêu khắc thiên tài Michelangelo, bên cạnh đó, còn có một bức tượng khác sừng sững trước cổng sân vận động Artemio Franchi, bức tượng của Batistuta. Bức tượng đồng ấy được dựng lên năm 1996, tức là khi Batistuta mới 27 tuổi. Bạn có hình dung được không, một con người bằng xương bằng thịt, mới chơi cho đội bóng được 5 năm, ở độ tuổi 27, được dựng tượng đồng. Cùng với câu nói cửa miệng của người dân Florence: “Đầu tiên là Batistuta, sau đó là Thượng đế, cuối cùng mới là chúng tôi”. Chỉ chừng ấy thôi là quá đủ để thấy ở thành Florence, Batistuta được tôn thờ đến nhường nào.

Mọi chuyện bắt đầu vào năm 1991, một chàng trai có mái tóc dài màu hạt dẻ, mắt màu nâu nhạt, khuôn mặt đẹp hoang dã đặt chân đến xứ Tuscany, chàng trai ấy là Gabriel Batistuta. Có anh, lập tức câu lạc bộ nghèo khó của xứ Tuscany trở thành một trong “bảy chị em” đầy quyền lực và hùng mạnh. Mỗi khi anh vào sân, cuộc đi săn của “vua sư tử” bắt đầu. Anh mạnh mẽ, càn lướt và sút xa cực kỳ quyết đoán. Anh cũng có thể chích bóng rất tinh tế khi cần thiết. Cùng với đó là khả năng không chiến tuyệt hảo và khả năng tung ra những quả nã đại bác góc hẹp khó tin. Với Batistuta, khoảng cách, vị trí và góc độ tính từ trái bóng đến khung thành chưa bao giờ là vấn đề. Trong mắt nhiều người (trong đó có tôi), Batistuta là số 9 toàn diện nhất mọi thời đại.

Người ta vẫn hay sử dụng mỹ từ “sát thủ” cho những tiền đạo hàng đầu. Có điều Batistuta khác với tất cả những người còn lại. Nếu những cầu thủ như Inzaghi, Van Nistelrooy hay Trezeguet là sát thủ vòng cấm với “vũ khí” là con dao găm và khẩu súng lục, phục vụ cho việc hạ gục con mồi ở khoảng cách gần nhất có thể. Với Lewandowski trong thời đại này, có thể anh sẽ hạ gục con mồi với một khẩu liên thanh. Còn với Batistuta, anh luôn đi săn với một khẩu bazoka thượng hạng. Anh chọn cách chơi ít màu mè, không hoa mỹ, cực kỳ lạnh lùng và chuẩn xác. Bóng đến chân, anh “lên cò” và rách lưới. Mọi chuyện diễn ra đơn giản chỉ có vậy. Sau đó là mái tóc bồng bềnh tung bay ngược gió, hoặc là màn bắn súng liên thanh ở một góc khán đài nào đó mà các cổ động viên Fiorentina đã chờ sẵn gào thét điên loạn vì anh, đôi khi lại là màn gẩy guitar đầy mê đắm giữa bê tông cốt thép Calcio. Suốt 9 năm ở Fiorentina, anh vẫn ăn mừng như thế và chỉ có duy nhất một lần ngoại lệ. Lần đó, anh ghi bàn vào lưới AC Milan, anh không gẩy guitar, cũng không bắn súng mà là một nụ cười hiền về hướng về góc khán đài nơi vợ anh đang ngồi, cùng với đó là câu nói: “Irina, te amo” (Irina, anh yêu em. Irina là tên của vợ Batistuta).

Khả năng ghi bàn xuất chúng của anh tạo nên tên tuổi, còn sự thuỷ chung thuần khiết biến anh thành huyền thoại. Lòng trung thành trong thế giới bóng đá xưa nay luôn là những câu chuyện đẹp nhất, lãng mạn nhất. Mùa giải 99/00, Atletico xuống hạng, Juan Valeron, Jimmy Floyd Hasselbaink và nhiều cầu thủ sáng giá khác ra đi. Mùa hè năm 2006 là câu chuyện tương tự với Juventus, hàng tá hảo thủ đã rời khỏi con tàu đắm Juve để được chơi bóng ở đẳng cấp cao nhất thay vì Serie B. Mùa giải 1992/1993, Fiorentina cũng xuống hạng dù sở hữu một bộ đôi tấn công xuất chúng. Hàng loạt các đội bóng lớn xâu xé hàng công của “kẻ khốn khổ” Fiorentina. Cậu em nhà Laudrup - Brian Laudrup nhanh chóng được AC Milan đưa về San Siro. Rất nhiều đội bóng lớn khác trải thảm đỏ mời Batistuta về, nhưng tất cả chỉ nhận được cái lắc đầu cùng câu trả lời: “Tôi sẽ chẳng đi đâu cả” của Batistuta. Batistuta khi ấy đang ở đẳng cấp hàng đầu, 24 tuổi, cái độ tuổi phát triển chóng mặt của giới cầu thủ, độ tuổi cần phải phát triển đi lên chứ không phải là những bước lùi. Ấy là chưa kể anh hoàn toàn có thể bị ngó lơ trong chiến dịch World Cup 1994 vì anh không chơi bóng ở những sân khấu lớn.

Dừng lại một chút để so sánh, Nuno Gomes, tuy không thể đạt tới đẳng cấp như Batistuta nhưng cũng là một chân sút xuất chúng mà bóng đá Bồ Đào Nha từng sản sinh ra. Ở cái tuổi 24 ấy, Gomes khiến cả Châu Âu điên đảo với kỳ Euro 2000 cực kỳ ấn tượng. Và án phạt 8 tháng của UEFA vì Gomes bật trọng tài trong trận bán kết Euro đã giết chết tài năng của anh, một phát súng cho con thiên nga đang đà tung cánh, Nuno Gomes vĩnh viễn chỉ còn là cái bóng mờ của chính mình. Batistuta chấp nhận xuống chơi ở Serie B, bỏ ngoài tai tất cả những lời dèm pha, không màng cám dỗ và gạt đi cả những nỗi lo sợ.

“Em vào đời bằng kế hoạch, anh vào đời bằng mộng mơ. Lý trí em là công cụ, còn trái tim anh là động cơ” - Lối nhỏ - Đen Vâu.

Rap Việt không phải thể loại tôi yêu thích, ca khúc này tôi cũng vừa mới nghe hôm qua vì cái MV đậm chất Sherlock Holmes, một nhân vật tôi rất hâm mộ. Khi nghe được những câu mà tôi trích dẫn, tôi không thể ngừng liên tưởng đến Batistuta trong cái mùa giải anh chấp nhận xuống chơi ở Serie B (sau khi nghe bài hát vài ba lần, tôi mới có cảm hứng để viết bài này). “Em” là những đội bóng lớn muốn có Batistuta, còn “anh”, với tâm trí của một kẻ mộng mơ, “động cơ” của một “trái tim” yêu Fiorentina đến khờ dại, ghi 16 bàn đưa Fiorentina trở lại Serie A. Trong cái thời đại bóng đá kim tiền, liệu còn có câu chuyện nào về lòng trung thành lãng mạn và đẹp hơn thế?

Trở lại Serie A, với Rui Costa mớm bóng sau lưng, Batistuta ghi đến 26 bàn thắng trong 34 trận đấu, một con số khủng khiếp ở một giải đấu mà sự chắc chắn được đặt lên hàng đầu và các hậu vệ không ngần ngại chém đinh chặt sắt. Đó là lời đáp trả đanh thép cho bất kỳ kẻ nào nghi ngờ anh bị “lụt nghề” sau một mùa giải chơi ở giải đấu không xứng tầm. Mùa giải sau đó là 19 bàn thắng ở Serie A, đưa đội bóng đến vị trí thứ tư và 8 bàn thắng ở Coppa Italia giúp đội bóng có chức vô địch đầu tiên sau nhiều năm. Và thật khó tin, với tài năng xuất chúng, Coppa Italia mùa giải 95/96 mới là danh hiệu đáng kể đầu tiên của Batistuta ở lục địa già. Cũng trong thời gian này, bức tượng đồng của anh được dựng lên trước sân Artemio Franchi và câu nói “Đầu tiên là Batistuta, tiếp theo là Thượng đế, cuối cùng mới là chúng tôi” được người dân Florence truyền miệng, sau đó nổi tiếng trên toàn Thế giới.

Bên cạnh một lối chơi toàn diện, Batistuta còn là một tấm gương về sự cao đẹp trên sân cỏ. Anh sinh ra và lớn lên ở Argentina, nơi nổi tiếng với những cầu thủ cực kỳ “quái”, thông thạo nhiều ngón tiểu xảo và chơi bóng phần lớn sự nghiệp ở Serie A, một giải đấu cực kỳ toan tính và chặt chẽ. Nhưng có bao giờ bạn thấy Batistuta cay cú ăn thua hay ngã vờ kiếm thẻ? Câu trả lời là không. Ở anh, người ta chỉ thấy sự dũng mãnh, lăn xả, nhiệt huyết và hết mình vì đội bóng mà thôi.

Trong một cuộc trả lời phỏng vấn với tờ Marca vào năm 2019, Batistuta chia sẻ lý do anh từ chối mọi lời mời chào thời anh còn thi đấu: “Tôi không thích cảm giác trở thành một siêu sao, vì khi đó, tôi sẽ trở thành tâm điểm của đội bóng và có thêm nhiều gánh nặng, trách nhiệm. Tôi nhận được rất nhiều lời mời chào từ Man Utd hay Real Madrid, nhưng tôi thích sự yên bình ở Fiorentina”

“Em đi tìm nốt thăng hoa, lòng anh lại là âm trầm. Em đi tìm nơi phố thị, anh đi tìm tiếng guitar. Em đưa anh vào trong náo nhiệt, anh lắc đầu và đi ra” - Lối nhỏ

Batistuta bình dị đến lạ vậy đấy. Anh gạt bỏ cơ hội giành Champions League để ở lại xứ Tuscany bình yên. Đánh đổi cơ hội có được Quả bóng vàng vì anh yêu The Viola quá đỗi. Hè nào cũng vậy, anh luôn đáp trả báo giới khi được hỏi về những tin đồn chuyển nhượng xung quanh anh bằng cái điệp khúc “Tôi sẽ vẫn ở đây, chẳng đi đâu cả”. Tất cả quãng thời gian đẹp nhất của đời cầu thủ, anh tận hiến cho màu áo tím để đổi lại 1 Coppa Italia, 1 Siêu cup Italia và danh hiệu “an ủi”: nhà vô địch lượt đi mùa giải 1998/1999. Quá ít ỏi so với tài năng to lớn của anh.

Những tưởng anh sẽ vĩnh viễn ở lại với màu áo tím, nhưng cuộc đời nào có bằng phẳng vậy. Hàng loạt các ông chủ ở Ý làm ăn thua lỗ, Fiorentina của Cecchi Gori cũng không phải kẻ ngoại lệ, Fiorentina buộc phải bán Batistuta để bù lỗ. Anh đến Roma theo một bản hợp đồng kỷ lục cho một cầu thủ đã ngoài 30 tuổi. Anh giành Scudetto đầu tiên và cũng là cuối cùng trong sự nghiệp đầy rẫy những thăng trầm của mình. Còn việc anh ghi bàn vào lưới Fiorentina, cả cầu trường gào thét tên anh rồi chợt chết lặng đi, sau đó, Batistuta khóc cùng các cổ động viên có lẽ đã trở thành truyền kỳ mất rồi. Có người hâm mộ bóng đá Ý nào mà không tỏ tường về cái khoảnh khắc quá đỗi giàu cảm xúc ấy? Sau trận đấu, anh chạy đến cảm ơn nhóm cổ động viên của Fiorentina có mặt ở thủ đô, anh vẫn nhận được những tiếng hô vang “Batigol”. Sau này, khi được hỏi về trận đấu đó, anh đã gọi đó là “trận đấu không nên diễn ra” một cách đầy khắc khoải.

Sau mùa giải 2000/2001 thành công cùng Roma, Batistuta bắt đầu bị những chấn thương nghiêm trọng hành hạ, cùng với việc dần bộc lộ dấu hiệu của tuổi tác, anh không còn giữ được khả năng săn bàn thượng hạng nữa. Anh đến Inter Milan theo một bản hợp đồng cho mượn. Nếu như gần 10 năm trước, ngài Moratti hỏi mua anh vì lý do chuyên môn thì ở thời điểm ấy, ngài Moratti mượn Batistuta vì quá hâm mộ anh. Ngài Moratti đáng kính ấy cũng rất “con người” như tất cả chúng ta, cũng hâm mộ Batistuta vì một con người, một tiền đạo như Batistuta, có ai từng chứng kiến anh thi đấu mà không hâm mộ được cơ chứ.

Rời Italia, anh chuyển đến Qatar xa xôi thi đấu thêm một thời gian ngắn trước khi nói lời giải nghệ. Ngày giải nghệ, anh mỉm cười với tất cả mọi người và phát biểu ngắn gọn, mộc mạc: “Tôi giải nghệ. Cảm ơn tất cả mọi người đã quan tâm đến những điều tôi làm trên sân cỏ trong nhiều năm qua”. Vậy đấy, cho đến tận ngày giải nghệ anh vẫn bình dị quá đỗi như vậy.

“Em đi để lại chuỗi cười/Trong tôi vỡ một khoảng trời pha lê” - Nguyễn Công Trứ

Anh rời xa sân cỏ với một nụ cười, để lại không biết bao nhiêu “khoảng trời pha lê” vỡ nát trong lòng người hâm mộ. Chắc hẳn ngày nhận tin anh giải nghệ, không ít người hâm mộ cảm thấy hụt hẫng xen lẫn tiếc nuối. Hụt hẫng vì sẽ không còn những tiếng gầm quyền uy của vua sư tử trên sân cỏ nữa, tiếc nuối vì những quyết định quá mộc mạc, thậm chí là có phần sai lầm của anh. Giá như suốt từng ấy năm, anh ích kỷ hơn một chút, vì bản thân hơn một chút, có lẽ bộ sưu tập danh hiệu của anh chẳng thiếu thứ gì, kể cả Quả bóng vàng.

Batistuta sau này có chia sẻ với báo giới: “Mặc dù tôi chưa từng giành một danh hiệu lớn nào, nhưng tôi vẫn nghĩ mình là người chiến thắng bởi đã giúp Fiorentina cạnh tranh với các đội bóng lớn”. Phải, anh có ít danh hiệu quá, đó dường như là “lời nguyền” của một trong những người có lối chơi và cách sống “phản Maradona” nhất Argentina. Nhưng có hề gì, vì anh đã có danh hiệu lớn nhất cuộc đời, đó là tình yêu bất diệt của thành Florence.

 

Theo Lê Hoàng Huy

Bình Luận

Bảng xếp hạng